|
Sản phẩm
Khuyến Mãi
|
Một số thông tin cần biết về bệnh tăng huyết áp? - Tăng huyết áp là bệnh lý thường gặp, chiếm 11,8% dân số trên 15 tuổi ở Việt Nam. Như vậy, cư khoảng 100 người thì có 12 người bị tăng huyết áp. - Bệnh thường gặp ở những người trên 40 tuổi, với thể tăng huyết áp nguyên phát hay không rõ nguyên nhân. Cũng có những người trẻ bị tăng huyết áp, thường là thể tăng huyết áp thứ phát, hay còn gọi là tăng huyết áp có nguyên nhân. Nhóm này cần được lưu ý, vì nếu tìm và điều trị được nguyên nhân thì thường hết bệnh. - Định nghĩa: tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu >140mmHg hoặc huyết áp tâm trương >90mmHg hay cả hai cùng xảy ra, có khả năng làm tổn thương các cơ quan gọi là các cơ quan đích như não, tim, thận, mạch máu và võng mạc mắt. - Trị số huyết áp gồm có “huyết áp tâm thu” “huyết áp tâm trương”. Ví dụ : 130/70 mmHg có nghĩa là huyết áp tâm thu là 130mmHg, huyết áp tâm trương là 70mmHg. mmHg là đơn vị đo áp lực, 1mmHg=1,39cmH2O. - Chúng ta cần nhớ cả hai trị số này. Tăng huyết áp khi một trong hai hay cả hai trị số này đều tăng và mức độ nặng cũng như độ nguy hiểm của bệnh phụ thuộc vào cả hai trị số này và các yếu tố khác. - Bệnh tăng huyết áp không chỉ là con số huyết áp cao ít hay cao nhiều mà quan trọng hơn là ảnh hưởng, là hậu quả của nó gây ra đối với các cơ quan đích, như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, suy thận, mù mắt…Do đó chúng ta không nên xem thường, có người huyết áp tâm thu 200mmHg vẫn không có triệu chứng nhưng có người chỉ 160mmHg đã gây ra tai biến mạch máu não hay nhồi máu cơ tim. - Tác hại của huyết áp cao trên các cơ quan đích: + Não: cơn thiếu máu não thoáng qua, tai biến mạch máu não (xuất huyết não, nhồi máu não), bệnh não do tăng huyết áp, giảm trí nhớ… + Tim: thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim, phù phổi cấp, lớn tâm thất trái, suy tim. + Thận: suy thận, đái máu, đái protein + Võng mạc: co nhỏ động mạch, bắt chéo động tính mạch, xuất tiết, xuất huyết, phù gai thị. + Mạch máu: xơ vữa động mạch, bóc tách động mạch. - Yếu tố nguy cơ của bệnh tăng huyết áp. Tương tự như bệnh mạch vành, bệnh tăng huyết áp cũng có các yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng bị bệnh cũng như những biến chứng nặng của bệnh. Chúng bao gồm các yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành ở trên cộng thêm các yếu tố nguy cơ khác như: + Yếu tố di truyền: nghiên cứu đã chứng minh những người sống trong gia đình có người thân bị tăng huyết áp dễ có nguy cơ mắt bệnh. + Chủng tộc: người châu âu có nguy cơ bị bệnh cao hơn người châu á, châu phi. + Tuổi :tuổi càng lớn tỉ lệ mắc bệnh huyết áp càng cao. + Chế độ ăn uống: người có thói quen ăn mặn và nhiều chất béo cơ nguy cơ bị tăng huyết áp. + Thuốc là có chứa nicotin là một chất ảnh hưởng đến huyết áp. + Người bị béo phì và ít hoạt động sẽ dễ bị tăng huyết áp hơn. + Stress là yếu tố thúc đẩy và làm tăng huyết áp. + Một số bệnh lý về thận, gan cũng làm tăng huyết áp. - Mức độ nặng của bệnh không chỉ phụ thuộc vào trị số huyết áp cao hay thấp mà còn phụ thuộc vào người đó có ít hay nhiều yếu tố nguy cơ, và có những yếu tố nguy cơ nào. Do đó chúng ta sẽ thấy hai người có trị số huyết áp bằng nhau, nhưng một người lại phải uống nhiều thuốc hơn, được khuyên tái khám thường xuyên hơn, vì điều trị tăng huyết áp là phải điều trị cả những yếu tố nguy cơ điều trj cả gốc rễ của nó vậy. Bài viết được trích trong cuốn sách “chăm sóc bệnh nhân tim mạch” Tác giả ThS.ĐD. Trần Thị Thuận, một giảng viên lâu năm trong ngành điều dưỡng viết! Được xuất bản bởi nhà xuất bản y học. |
|


