Phân loại chứng bệnh tăng huyết áp?

II. Phân loại chứng bệnh tăng huyết áp.
2.1. Y học hiện đại
Theo y học hiện đại bệnh tăng huyết áp được chia làm 2 loại:
- Nguyên phát: Loại tăng huyết áp không rõ nguyên nhâ; có thể do bẩm sinh, thể loại này chiếm tỷ lệ cao tới 85-90 trong tổng số người bị tăng huyết áp.
- Thứ phát: Loại tăng huyết áp do sau một chứng bệnh nào đó. Ví dụ: Viêm cầu thận, viêm bể thận, u thận, lao thận, bệnh nội tiết, phì đại thượng thận bẩm sinh, hẹp động mạch chủ, nhiếm độc thai nghén, hoặc tinh thần căng thẳng…
2.2 Y học cổ truyền
Y học cổ truyền coi bệnh tăng huyết áp là bệnh thuộc chứng huyễn vựng, đầu thống, can dương thượng cương. Căn cứ vào chứng trạng bệnh, người ta chia làm một số loại hình như sau:
2.2.1. Can nhiệt (can dương thượng cang)
Các triệu chứng thường gặp: Đau đầu, căng đầu, hoa mắt, mắt đỏ, ù tai, môi miệng khô, đắng, chân tay hay bị co rút, tê bì, đầu lưỡi đỏ, rêu trắng hoặc hơi vàng, mất ngủ, lòng bàn tay chân nóng, mạch huyền.
2.2.2. Đàm hỏa nội thịnh (đàm thấp);
Thể hiện mắt mờ, đầu căng, đau đầu ngực sườn đầy tức, mắt đỏ, miệng khô đắng, đờm dính quanh, rêu lưỡi vàng dầy, đầu lưới đỏ hay lợm giọng buồn nôn, kém ăn ít ngủ; mạch huyền hoạt. Thể đàm thấp thường gặp ở những người có thể trạng béo, có hàm lượng cholesterol cao (mỡ máu cao).
2.2.3. Âm hư dương thịnh:
Nguyên nhân do phần âm trong cơ thể bị suy yếu, phần âm không đủ để ức chế hỏa; hỏa vượng lên mà gây ra bệnh. Biểu hiện: Hoa mắt, chóng mặt, đầu nặng chân bước không thật, tai ù, phiền táo dễ cáu gắt, chân tay tê bì, chất lưỡi đỏ, rêu trắng, mỏng, mạch huyền.
2.2.4. Can thận âm hư:
Các triệu chứng thường gặp là nhức đầu hoa mắt, ù tai, hay hoảng hốt dễ sợ hãi, măt hay bị đỏ, miệng khô, chất lưỡi đỏ, ít rêu. Lưng đau, gối mỏi dị tinh; khi ngủ hay bị mê; mạch huyền, tế, sác. Thế này thường gặp ở những người già mà động mạch bị xơ cứng.
2.2.5. Thế tâm tỳ hư:
Thường xảy ra ở những người cao tuổi, có kèm theo các chứng viêm loét dạ dày tá tràng biểu hiện hoa mắt, đau đầu, da khô, kém ăn, kém ngủ, phân nát. Rêu lưỡi mỏng trắng. Mạch huyền tế.
2.2.6. Thế âm dương lưỡng hư:
Biểu hiện chóng mặt đau đầu; sắc mặt trắng bệch, chân tay lạnh, mềm yếu, cơ teo nhẽo, tiểu đêm nhiều lần, liệt dương hoạt tinh. Người luôn có tâm trạng  phiền muộn, miệng khô, lưỡi bóng hơi hồng. Mạch trầm tế.
III. Nguyên nhân dẫn đến tăng huyết áp
3.1. Nguyên nhân bên trong
3.1.1. Viêm thận:
Viêm thận cấp tính hoặc mãn tính đều có những biểu hiện ban đầu là phù; thường bắt đầu từ mặt, mắt (mí mắt trên).
Thời kỳ đầu huyết áp tăng cao và dao động lớn, thời kỳ sau dẫn đến huyết áp tối thểu tăng; có những biều hiện đau lưng, sơ lạnh, chân tay mỏi, cơ mềm nhược. Tiểu ít; nước tiểu thường vàng thẫm; đôi khi đục như nước gạo hoặc có máu. Kém ăn kém ngủ mệt mỏi.
3.1.2. Viêm đài thận mạn tính:
Biểu hiện thời kỳ đầu, thân nhiệt thường hạ với thời gian kéo dài, đau lưng đi tiểu nhiều lần, không nín tiểu được, khi đi thường đau buốt, đầu thường đau căng, tim đập nhanh.
Huyết áp tăng cao, thể trạng suy nhược thiếu máu, phù thũng. Trong nước tiểu có thể có máu mủ và vi khuẩn
3.1.3. Lao thận:
Biều hiện thân nhiệt thấp, tự ra nhiều mồ hôi. Đi tiểu nhiều lần, lượng nhiều, thường nước tiểu có màu. Có thể biểu hiện các chức năng thận bị giảm kèm theo cao huyết áp.
3.1.4. Nang thận:
Biều hiện đau lưng đôi khi đau bụng có thể đi tiểu ra máu. Khi các nang phát triển huyết áp thường tăng, đồng thời với sự xơ cứng các động mạch.
3.1.4. Có u ở tuyến thượng thận:
Biểu hiện tim đập nhanh, hồi hộp, đau đầu, buồn nôn, thị lực giảm; ra mồ hôi nhiều, chân tay lạnh và tê bì. Đau vùng ngực lưng và bụng. Kém ngủ, tinh thần căng thẳng, kèm theo huyết áp tăng.
3.1.6. Động mạch bị xơ cứng:
- Do thành mạch bị biến đổi, dày lên và xơ cứng, tính đàn hồi bị giảm đi, lòng mạch bị nỏ lại. trương hợp này thường dẫn đến sự tăng huyết áp tối đa; còn huyết áp tối thiểu bình thường hoặc hơi hạ. Thường gặp ở lữa tuổi trung niên. Triệu chứng lâm sàng thường biểu hiện tim đập nhanh, hồi hộp, động mạch vành bị biến dạng, dẫn đến đau thắt ngực, cơ tim bị cứng hóa.
- Do hẹp miệng của động mạch chủ thường do bẩm sinh (tim tiên thiên). Đa phần thấy ở nam giới. Tính chất nặng hay nhẹ là do mức độ hẹp của miệng động mạch chủ. Có người khi tuổi trưởng thành mới phát hiện thấy. Cơ thể thường biểu hiện mệt mỏi, đau vùng tim, tim đập nhanh. Huyết áp ở tay  cao, huyết áp ở chân lại thấp hơn. Thời gian đầu huyết áp thường biểu hiện cao ở mức độ vừa kèm theo đau đầu, chóng mặt, tiểu nhiều, tiểu đêm, phiền toái, chân tay vô lực tê bì, co quắp. Với các xét nghiệm máu thấy hàm lượng kali giảm và natri tăng. Ngoài ra hẹp động mạch chủ cũng là nguyên nhân gây tăng huyết áp.
3.1.7. Cường năng tuyến giáp:
- Do hormon tuyến giáp phân tiết quá nhiều dẫn đến tim đập nhanh, tinh thần căng thẳng nhiều mồ hôi; sợ nóng, mắt bị lồi; phù tuyến giáp, thường ăn nhiều mà trọng lượng cơ thể lại giảm, do chuyển hóa cơ bản tăng kèm theo tăng huyết áp tối đa; huyết áp tối thiểu thấp.
3.1.8. Do nhiễm độc thai nghén:
Một số phụ nữ khi có thai, cũng biểu hiện cao huyết áp.
3.1.9. Do hàm lượng cholesterol trong máu:
Vượt quá giời hạn cho phép (5,68mmol/l) sẽ ảnh hưởng đến thành mạch.
3.2. Nguyên nhân bên ngoài
- Do ăng uống: Do ăn uống các chất cay nóng, kích thích trong thời gian kéo dài như rượu, cà phê, thuốc lá hoặc chế độ ăn uống qua nhiều mỡ động vật, ăn mặn.
- Do căng thẳng thần kinh (do làm việc nghỉ nghơi không điều dộ dẫn đến lo nghĩ, sợ hãi).
- Do các yếu tố môi trường như quá nhiều tiếng động mạnh, tiếng ồn ào…
- Uống thuốc chống thụ thai, thuốc corticoid cũng là nguyên nhân gây tăng huyết áp.
Như vậy có rất nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến bệnh tăng huyết áp. Tuy nhiên người ta vẫn thấy rằng nguyên nhân bên trong là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến bệnh này; mặc dù vậy các nguyên nhân bên ngoài không kém phần quan trọng dẫn đến bệnh tăng huyết áp. Do đó để phòng trị bệnh tăng huyết áp có hiệu quả cần phải kết hợp, vừa điều trị các nguyên nhân bên trong đồng thời khắc phục những yếu tố bên ngoài lại ảnh ưởng đến bệnh tăng huyết áp.

Nguồn tin từ: PGS.TS.Phạm Xuân Sinh