Môt sô loại thuốc cổ truyền có liên quan đến phòng trị bệnh tăng huyết áp?
- Thuốc trấn kinh an thần: Thường dùng với trường hợp thần kinh căng thẳng mà tăng huyết áp, đau đầu, mất ngủ, hoa mắt chóng mặt.
Các vị thuôc như: Câu đằng, thiên ma, lạc tiên, ngải tượng, bá tử nhân, trăc bá nhân, viễn chí, vông nem…
- Thuốc bình can hạ áp: Thường dùng trong các trường hợp cường can dương hoa mắt. Các vị thuốc thường dùng như: Hạ khô thảo, cúc hoa, hoa hòe, mẫu lệ…
- Thuốc dương tâm an thần:
Thường dùng trong các trương hợp: Tâm quý, tâm hồi hộp, loạn nhịp, mất ngủ, đau đầu và tăng huyết áp. Các vị thuốc thường dùng như: Đan sâm, thiên môn, mạch môn, hoàng tinh, ngọc trúc…
- Thuốc thẩm thấp, lợi niệu:
Thường dùng với các trường hợp: Thận viêm, chức năng thận kém, viêm tiết niệu…dẫn đến tiểu đục, tiểu buốt hoặc phù nề mà tăng huyết áp. Các vị thuốc thường dùng như: Sa tiền tử, kim tiền thảo, long du thái, ngưu bàng tử, trạch tả…
- Thuốc hoạt huyết hành khí thường dùng với các trường hợp huyết trệ, huyết ít, khí huyết lưu thông kém. Các trường hợp tăng cholesterol và triglycerid máu. Các vị thuốc thường dùng như: Ngưu tất, uất kim (nghệ) ích mẫu, sung úy tử, cốt khí củ, nấm linh chi, actisô…
- Thuốc thanh nhiệt: Thường dùng trong các trường hợp can thận nhiệt, huyết nhiệt, gây ra đau căng đầu, hoa mắt tăng huyết áp. Các vị thuôc thường dùng như: Hoàng liên, hoàng bá, hoàng cầm…
* Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, theo y học cổ truyền, thì khái niệm cao huyết áp mà chúng ta thường gọi thuộc chứng “ huyền vựng” của đông y, và như vậy để giải quyết chứng bệnh này, người ta có thể dùng nhiều loại thuốc khác nhau để phối hợp không nhất thiết phải tất cả các vị thuốc trong phướng đều có tác dụng hạ huyết áp. Song thông thường kể cả cổ phương, ta cũng tìm thấy ít nhất có một vài vị thuốc có tác dụng hạ huyết áp. Ví dụ trong thiên ma câu đằng thang có câu đằng, cúc hoa, địa long…tác dụng hạ huyết áp. Trong lúc vị có mẫu đơn bì có tác dụng hạ huyết áp. Trong kỷ cúc địa hoàng hoàn có mẫu đơn bì, cúc hoa có tác dụng hạ huyết áp.
VII. Một số thành phần hóa học trong thuốc cổ truyền có tác dụng phòng trị bệnh tăng huyết áp?
- Các hợp chất alcaloid
- Alcaloid toàn phần trong dừa cạn.
- Alcaloid trong ba gác mà điển hình là reserpin
- Alcaloid trong lá sen: Nuciferin, nor-nuciferin roemerin
- Alcaloid trong bình vôi: L.tetrahydropalmatin
- Alcaloid trong hoàng liên, hoàng bá, vàng đắng: berberin
- Các hợp chất saponin tritecpenic clematosid trong uy linh tiên mà phần genyl là oleanolic acid; hoặc saponin tritecpenic trong ngưu tất có tác dụng giảm cholesterol làm hạ huyết áp.
- Các hợp chất flavonoid:
+ Các isoflavonoid trong cát căn: Daizein, daidzin puerarin tác dụng giãn động mạch cổ, động mạch đùi làm hạ huyết áp.
+ Các hợp chất rutozit trong hoa hòe (rutin), trong bạc hà (diosmin) có hoạt tính của vitamin P, có tác dụng làm giảm tính thấm, tính giòn của thành mạch (do ức chế men hyaluronidase). Do đó làm giảm các nguy cơ vớ mạch máu, làm xuất huyết, nhất là xuất huyết não khi huyết áp tăng cao. Một sự phối hợp thích hợp giữa flavonoid và acid ascorbic là nguyên nhân gây hạ huyết áp ở một số vị thuốc cổ truyền, trong đó có vị táo chua (táo ta)
- Các hợp chất coumarin: Byak engelicol trong bạch chỉ, Peucedanin trong tiền hồ có tác dụng giãn động mạch vành, chống đau thắt ngực; có lợi cho những bệnh nhân tăng huyết áp mà mạch vành bị sơ vữa.
- Mặc dù người ta đã biết một số thành phần hóa học trong vị thuốc có tác dụng hạ huyết áp song trên thực tế sử dụng, đặc biệt trong lĩnh vực y học cổ truyền người ta vẫn dùng các vị thuốc với các thành phần hóa học mang tính toàn phần của chúng. Tuy nhiên hiện nay trên thị trường vẫn có những chế phẩm được chiết tách phân lập dưới dạng một loại thành phần hóa học nào đó của vị thuốc. Ví dụ viên Ginkko fort là flavonoid chiết xuất từ Bạch quả với tác dụng giãn mạch hạ áp bền mao mạch. Viên Daflon là một số flavonoid chiết xuất từ vỏ cam, quýt để chữa bệnh chảy máu do tác dụng làm bền mao mạch.
Nguồn tin từ: PGS.TS. Phạm Xuân Sinh