Như thế nào gọi là bệnh tăng huyết áp?
- Ỏ người khỏe mạnh, có (HA tâm thu) là 120mmHg và HA tối thiểu (HA tâm trương) là 80mmHg và thường biểu thị bằng 120/80mmHg. Nếu HA tối đa 140mmHg và huyết áp tối thiểu 90mmHg được coi là tăng huyết áp. Nếu huyết áp tối đa nằm trong khoảng 140-160mmHg, và huyết áp tối thiểu nằm trong khoảng 90-95mmHg, được gọi là tăng huyết áp giới hạn. Tuy nhiên huyết áp còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Ví dụ vào giới tính, ở nam huyết áp thường cao hơn nữ. Vào lứa tuổi người già thường có huyết áp cao hơn giới trẻ thường từ 10-20mmHg. Vào vị trí trong cơ thể; huyết áp tối đa ở chân thường cao hơn ở tay 20mmHg còn huyết áp tối thiểu thì không chênh lệch. Người ta thường chia bệnh tăng huyết áp ra làm 2 loại: Loại tăng huyết áp thường xuyên có thể lành tính và có thể ác tính; loại tăng huyết áp cơn trên cơ sở huyết áp bình thường, có những cơn cao vọt, nhưng lúc này thường gây tai biến.
Mặc dug vậy ở mỗi quốc gia, dựa vào điều kiện cụ thể, có các quy định riêng về chỉ số huyết áp.
- Ở Trung Quốc có lúc dựa vào độ tuổi để xác định tình trạng tăng huyết áp.
+ Độ tuổi 39≤ tuổi huyết áp tối đa >140 kết luận tăng huyết áp
+ Độ tuổi 40-49 tuổi huyết áp tối đa > 150 kết luân tăng huyết áp.
+ Độ tuổi 50-59 tuổi huyết áp tối đa > 160 kết luân tăng huyết áp.
+ Độ tuổi ≥60 tuổi huyết áp tối đa > 170 kết luân tăng huyết áp.
- Ở hoa kỳ theo quy định của viện sức khỏe JNC thì tình trạng huyết áp được quy định thành 4 giai đoạn:
+ Huyết áp tối đa < 130(mmHg); Huyết áp tối thiểu<85 (mmHg); Tình trạng huyết áp bình thường.
+ Huyết áp tối đa 130-139 (mmHg); Huyết áp tối thiểu 85-89 (mmHg); Tình trạng huyết áp Bình thường cao.
+ Huyết áp tối đa 140-159 (mmHg); Huyết áp tối thiểu 90-99 (mmHg); Tình trạng huyết áp Tăng huyết áp nhẹ giai đoạn 1.
+ Huyết áp tối đa 160-179 (mmHg); Huyết áp tối thiểu 100-109 (mmHg); Tình trạng huyết áp Tăng huyết áp vừa giai đoạn 2.
+ Huyết áp tối đa 180-209(mmHg); Huyết áp tối thiểu<110-119(mmHg); Tình trạng huyết áp Tăng huyết áp nặng giai đoạn 3.
+ Huyết áp tối đa ≥220(mmHg); Huyết áp tối thiểu ≥120 (mmHg); Tình trạng huyết áp Tăng huyết áp rất nặng giai đoạn 4.
-Theo OMS ở người lớn tuổi có huyết áp bình thường nếu huyết áp tối đa dưới 140mmHg và huyết áp tối thiểu dưới 90mmHg. Nếu huyết áp tối đa trên 160mmHg và huyết áp tối thiểu trên 95mmHg là tăng huyết áp.
+ Năm 1993, cùng với Hội tăng huyết áp thế giới, OMS đã quy định lại như sau: Từ 140/90 trở lên được coi là tăng huyết áp.
+ Tăng huyết áp nhẹ, nếu huyết áp tối đa 140-180mmHg; huyết áp tối thiểu 90-105mmHg
+ Tăng huyết áp vừa và nặng; huyết áp tối đa ≥180mmHg; huyết áp tối thiểu 105mmHg.
+ Theo con số điều tra của Viện tim mạch Việt Nam huyết áp bình thường của người Việt Nam là 120/75mmHg ở nam giới thường 122/76mmHg, ở nữ giới 119/75mmHg.
- Tuy nhiên đối với người tăng huyết áp, cũng có thể chỉ tăng huyết áp tối đa còn huyết áp tối thiểu vẫn bình thường; cũng có thể chỉ tăng huyết áp tối thiểu còn huyết áp tối đa vẫn bình thường; cũng có thể tăng cả huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu khi hiệu số của huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu nhỏ, khoảng 15-20mmHg; hoặc huyết áp tối thiểu ≥ 100mmHg, lúc này cơ thể rất mệt mỏi và khó chịu cũng cần nói thêm rằng, đối với YHCT không có khái niệm bệnh tăng huyết áp. Các khái niệm về bệnh tăng huyết áp như ta thường hiểu lại nằm trong khái niệm về chứng “huyễn vựng” của YHCT. Trong những năm gần đây các nhà YHCT phương Đông nói chung và YHCT Việt Nam nói riêng, qua nghiên cứu trên thực nghiệm cũng như trên thực tiễn lâm sàng thấy rằng chứng huyết vựng của YHCT nói chung có cac triệu chứng giống với các triệu chứng của bệnh tăng huyết áp. Tuy nhiên về mặt phân loại HA và cơ chế tác dụng của thuốc lại có ý nghĩa riêng sẽ phân tích ở phần sau. Mặc dù vậy những vị thuốc và phương thuốc cổ truyền chữa chứng huyễn vựng vẫn được sử dụng với tính chất để chữa bệnh tăng huyết áp.
- Để xác định xem một người có bị tăng huyết áp hay không, người ta có thể dựa vào một số dấu hiệu sau đây:
Bệnh nhân thường có các cơn đau đầu dữ dội, căng đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn mặt thường đỏ, mắt đỏ do sung huyết, mắt mờ đi. Tình trạng nặng hơi thở thường gấp tim đập nhanh; thậm chí chân tay bị co quắp. Về phía YHCT thường kết hợp giữa các triệu chứng lâm sàng với việc chẩn mạch để xem xét tình trạng huyết áp.
- Về mặt chẩn mạch, YHCT coi mạch huyết áp là loại mạch điển hình của chứng tăng huyết áp; đó là loại mạch điển hình của chứng tăng huyết áp; đó là loại mạch dài suốt 3 bộ (thốn quan xích) có độ trương lực lớn “căng như sợi dây đàn”. Tuy nhiên diễn biến này cũng khá phức tạp, sẽ được bàn ở mục sau. Để có kết luận chính xác về tình trạng huyết áp của một người, hiện nay người ta thường tiến hành kiểm tra huyết áp bằng các máy đo huyết áp. Công việc kiểm tra thường tiến hành đo ít nhất 2 lần với những điều kiện giống nhau, vào giờ nhất định, thường tiến hành vào buổi sáng có thể từ 8-10 giờ. Sau đó lấy giá trị trung bình của các lần đo. Có thể dùng huyết áp kế kiểu đồng hồ hoặc huyết áp kế thủy ngân, Kiểu huyết áp kế đồng hồ tiện lợi, nhanh song độ chính xác đôi khi không cao vì thế người ta khuyến cáo nên 3 tháng kiểm tra lại bằng huyết áp thủy ngân một lần đối với những người bị bệnh tăng huyết áp. Khi tiến hành đo huyết áp bệnh nhân có thể ngồi hoặc nằm để đo. Cần chú ý thêm rằng khi tiến hành kiểm tra huyết áp người bệnh cần ở trạng thái thoải mái tránh các hoạt động nặng như chạy nhảy; cần nghỉ ngơi 5-10 phút trước khi đo và tránh các thức ăn mang tính kích thích như rượu, bia, cà phê, tránh hút thuốc lá hoặc uống các thuốc chữa hen suyễn, trành những kích thích về cảm xúc và cũng không đo sau khi ăn no.
Nguồn tin từ: PGS.TS. Phạm Xuân Sinh