Ba Kích (Ruột Gà) – Họ cà phê Rubiaceae?

- Đặc điểm thực vật: Cây thảo sống lâu năm, thân leo, lá mọc đối. Lá dài 4-6cm, hoa có màu trắng lúc đầu say pha màu vàng. Quả hình cầu khi chín có màu đỏ. Ba kích là cây mọc hoang ở một số tỉnh như Hà Bắc, Yên Bái, Quảng Ninh. ở Quảng Ninh đã có thời trồng thử dưới tán cây rừng.
- Bộ phận dùng: Rễ Radix Morindae
- Thành phần hóa học: Trong rễ có anthraglucozit, tinh dầu, đường , cita- min C, nhựa. Gần đây người ta phát hiện trong rễ bakich có các hợp chất monnotecpen như 1-borneol-6-O-β-apiosyl-D-glucosid. Các hợp chất Iridoid: morindolid, asperulosid, morofficinalosid acid asperulosic monot-ropein, acid desacetyl asperulosidic. Các hợp chất tritecpen: acid rotungenic methylether, lucidin, sterol: oxsitosterol.
- Tác dụng sinh học: Nước sắc ba kích có tác dụng hạ huyết áp và tăng nhu động ruột của động vật thí nghiệm. Tác dụng chống trầm uất của ba kích ( do 5 hợp chất: acid succinic, nystose, 1F-fucto-furano ylnystose, hexasaccarid và heptasaccarid.
- Công dụng: Dùng ba kích trị bệnh tăng huyết áp, đặc biệt tốt cho phụ nữ bị tăng huyết áp ở thời kỳ hành kinh. Ba kích là vị thuốc bộ thận dương mạnh gân cốt nên thường dùng trị cac bệnh yếu sinh dục nam; dẫn đến các chứng liệt dương, dị tinh, tiết tinh sớm, phụ nữ hay đau bụng dưới, vô sinh. Các trương hợp đau lưng mỏi gối do thận dương kém đều có thể sử dụng.
- Chú ý: Khi dùng người ta thường chích với muối ăn, với lượng cứ 1kg ba kích bỏ lõi dùng 150ml dung dịch muôi ăn 5%, tẩm, ủ rồi sao vàng. Có thể phối hợp với các vị thuốc chữa cao huyết áp khác như đỗ trọng, ngưu tất…

Nguồn tin từ: PGS.TS.Phạm Xuân Sinh