Chi tử (dành dành); họ cà phê-Rubiaceae?
- Đặc điểm thực vật: Thuộc loại cây nhỏ cao khoảng 1m2 đến 2m thân nhẵn. Lá mọc đối có lá kèm; mặt trên sẫm bóng. Hoa màu trắng, Quả dài 5-7cm hình cái chén có 6-9 góc; khi chín có màu vàng đỏ trong chứa hạt mỏng dẹt hơi vênh màu vàng, đường kính 3-5mm.
- Bộ phận dùng: Lá Folium Gardeniae; quả: Fructus Gardeniae
- Thành phần hóa học: Trong chi tử (hạt) có chứa các hợp chất Iridoid như gardosid, scanzhisid, scandozid, asperulosid, garde-nosid. Ngoài ra còn có taminm, tinh dầu pectin và α-croxetin acid ursolic (vỏ quả).
- Tác dụng sinh học.
+ Chi tử có tác dụng hạ huyết áp, tác dụng an thần, hạ nhiệt, chống co giật hiệp đồng với hyosiamin; lợi mật, hạ bilirubin máu.
+ Ức chế vi khuẩn gây bệnh huyết hấp trùng.
+ Tác dụng hạ nhiệt khi sốt cao được xác định do chất acid ursolic.
- Công dụng:
Chi tử được dùng khi sốt cao phát cuồng mê sảng, thường phối hợp với các vị thuốc hoàng liên, hoàng bá, hoàng cầm (hoàng liên giải độc thang), hoặc phối hợp với đậu xị.
Các bệnh viêm gan mật, vàng da, vàng mắt do tác dụng lợi mật của vị thuốc, phối hợp với hoàng bá. Cũng do hai tác dụng hạ nhiệt với lợi mật nói trên mà chi tử đã được nghiễm nhiên sử dụng như một vị thuốc hạ huyết áp. Do lơi mật, chi tử giúp cho tiêu hóa tốt thường phối hợp với nhân trần.
- Chú ý:
+ Cần tránh nhầm lẫn với hạt ớt hoặc hạt cà độc dược (hạt cà dược rất độc).
+ Trên thị trường đôi khi người ta bán chi tử đã được chiết mất chất mầu (để làm mầu thực phẩm) thì chất lượng kém, cần quan sát kỹ.
+ Khi dùng với tinh chất cầm máu (ví dụ chảy máu cam, trĩ xuất huyết, chi tử cần được sao chảy).
+ Lá và cành non dành dành cũng được dùng làm thuốc chữa sốt, chữa viêm gan, chữa đau mắt, đặc biệt để chữa viêm kết mạc mắt, mắt sung huyết đỏ, lấy lá non dành dành rửa sạch, giã vắt lấy dịch đông bọc vào miệng vải gạc hay giấy bản rồi đắp lên mắt; thỉnh thoảng lại lật miếng gạc. Làm một số lần sung huyết mắt sẽ hết.
Nguồn tin từ: PGS.TS.Phạm Xuân Sinh