Ba Gạc - họ trúc đào

- Đặc điểm thực vật: Cây ba gạc thuộc loại cây nhỏ cao độ 1m-1,5m vỏ thân có những lỗ sân. Lá nhỏ dài 5-7cm thường mọc đối hoặc mọc vòng
- Hoa bình ống, màu trắng. Quả hình trứng khi chín có màu đỏ tươi. Cây thường mọc hoang ở rừng núi phía Bắc nước ta như Hà Bắc, Lào Cai, Cao Bằng, Lạng sơn.
- Bộ phận dùng: Rễ Radix Rauwolfiae
- Thành phần hóa học: Rễ chứa alcaloid khoảng 1,5-3% chủ yếu là reserpin, secpentin, rescinnamin, raubasin, ajmalin, ajmalicin.
- Tác dụng sinh học: Nước sắc rễ ba gạc có tác dụng hạ huyết áp rõ rệt trên động vật thí nghiệm. Tác dụng hạ áp này được xác định do chất reserpin và rescinnamin. Tác dụng hạ áp chậm và duy trì lâu; đồng thời làm mất tác dụng của nor-adrenalin; ngoài ra còn làm tim đập chậm lại. Người ta đã xác định tác dụng hạ áp của ba gạc theo cơ chế thần kinh trung ương. Còn có tác dụng an thần.
- Công dụng: Rễ ba gạc được dùng để chữa tăng huyết áp dưới dạng cao lỏng 1:1, với liểu 30 giọt 1 ngày. Tùy theo từng điều kiện cụ thể có thể tăng số giọt lên gấp rưỡi hoặc gấp đôi. Một liệu trình thường 10 đến 15 ngày.
- Chú ý: Khi dùng ba gạc để điều trị tăng huyết áp cần tôn trọng nghiêm ngặt về liều lượng. Ở nước ta có nhiều loại ba gạc như ba gạc Ấn Độ (R.serpentina), ba gạc Cu Ba…cũng chữa các hợp chất alcaloid, có tác dụng hạ huyết áp. Người ta thường khai thác rễ làm nguyên liệu chiết xuất các hoạt chất để chế thuốc dưới dạng viên, uống theo liều lượng quy định.

Nguồn tin từ: PGS.TS.Phạm Xuân Sinh