Đỗ trọng - thuộc họ đỗ trọng
- Đặc điểm thực vật: Độ trọng là cây cao, có khi tới 20m. Lá mọc sole hình trứng rộng dài 6-18cm đầu lá nhọn, gốc lá tròn, mép lá có răng cưa; lá khi đứt ra có tơ. Hoa đơn tính, hoa đực hoa cái khác gốc, không có bao hoa. Quả có cánh dẹt hình thoi dài 3cm, đầu quả xẻ làm đôi. Cây có di thực vào nước ta; trồng ở Lào Cai, Văn Điển.
- Bộ phận dùng: Vỏ thân, vỏ có lớp bần mầu xám, khi cắt có tơ dai.
- Thanh phần hóa học: Trong vỏ có 70% nhựa, 22,5% chất keo gutta pecka ngoài ra còn có chất béo, tinh dầu, muối vô cơ chất mầu và albumin.
- Tác dụng hóa học.
+ Với 5-8g/kg (chó) nước sắc có tác dụng hạ huyết áp tốt; dịch chiết cồn với liều 1-2g/kg thể trọng cũng có tác dụng hạ huyết áp. Với thỏ cũng có tác dụng hạ huyết áp. Tác dụng hạ áp của đỗ trọng được chứng minh do tác dụng trên trung tâm vận mạch ở hành tủy.
+ Làm tăng cường độ co bóp của cơ tim.
+ Lợi tiểu
- Công dụng: Đỗ trọng được dùng để chữa bệnh tăng huyết áp, phối hợp với ba kích, thiên ma, đỗ trọng được dùng để trị các bệnh đau lưng đau xương khớp; đặc biệt đau lưng do thận; có thể phối hợp với cầu tích cốt toái bổ, khương hoạt. Đỗ trọng dùng để chữa động thai, phối hợp với tục đoạn.
- Chú ý: Khi dùng đỗ trọng thường được chế bằng cách lau rửa sạch rồi thái dăm; sao với dung dịch muối (1kg đỗ trọng dùng 150ml dung dịch muối 5%) sao cho đứt tơ. Đỗ trọng sao tác dụng mạnh hơn đỗ trọng sống. Đỗ trọng sắc với nước tác dụng mạnh hơn dạng cồn.
Những trường hợp tăng huyết áp do nguyên nhân thận, se thu hiệu quả cao.
Nguồn tin từ: Máy đo huyết áp
Tác giả: PSU.TS. Phạm Xuân vinh