Đương quý- họ hoa tán
- Đặc điểm thực vật:
Đương quý có thân mềm, mầu tím có rãnh dọc cao tới 80cm. Lá có cuống dài mọc so le, 2-3 lần xẻ lông chim, thông thường ở mỗi lá như vậy có tới 3 đôi lá chét; trong đó đôi lá chét phía đỉnh thì không có cuống. Hoa nhỏ màu xanh trắng thường từ 12 đến 40 hoa họp thành cụm hình tán kép. Quả bế có rìa hình tím nhạt. Đường quy được di thực vào Việt Nam và đã trồng ở một số nơi như Đông Mỹ (Hà Nội) Sapa (Lào Cai). Ở Sapa có khí hậu và thổ nhưỡng thích hợp với đương quy.
- Bộ phận dùng: Rễ
- Thành phần hóa học: Thành phần hóa học của đương quy chủ yếu là tinh dầu (0,2%); trong tinh dầu có một số thành phần như n-butylidenphtalit, Sesquitecpen, safrola, becgapten…Ngoài ra còn có vitamin B12.
- Tác dụng sinh học
+ Nước sắc và dạng chiết cồn có tác dụng hạ huyết áp đối với chó đã gây mê ( phần tinh dầu hạ áp tốt).
+ Tác dụng với tử cung: Phần tin dầu gây ức chế, phân tan trong nước gây hưng phấn.
+ Nước sắc đương quy ức chế trực khuẩn dịch hạch thương hàn, cung khuẩn hoắc loạn.
- Công dụng:
Đường quy được dùng làm thuốc bổ huyết; tuy nhiên cũng cần thiết rằng, trong đông y, người ta cho rằng phần đầu của quy tác dụng chủ yếu là chỉ huyết (cầm máu), phần giữa (quy thân) mới tác dụng bổ huyết, còn phần đuôi (quy vĩ) có tác dụng hoạt huyết. Đối với những người có huyết áp giao động khi tăng khi giảm, cơ thể gầy yếu, dùng đương quy thích hợp. Do tính chất vừa bổ vừa hoạt huyết nên đương quy còn dùng tốt cho phụ nữ kinh nguyệt bế, vô sinh rất tôt.
Nguồn tin từ: Máy đo huyết áp
Tác giả: PSU.TS. Phạm Xuân vinh