Hạ khô thảo

- Đặc điểm thực vật
+ Hạ khô thảo là cây sống dai, thân vuông hơi tím đỏ. Lá mọc đối hình trứng hay hình mũi mác, mép nguyên hoặc có răng cưa. Cụm hoa mọc ở đầu cành giống như bông là do nhiều hoa có cuống ngắn mọc vòng, mỗi vòng có 5-6 hoa; cánh hoa mầu tím nhạt. Quả nhỏ cứng. Hạ kho thảo mọc nhiểu ở các đồi núi Lào Cai như Sapa, Hà Giang.
Hiện nay trên thị trường có bán nhiều hạ khô thảo có nguồn gốc Trung Quốc.
- Bộ phận dùng: Hoa tự và quả.
- Thành phần hóa học: Trong vị thuốc chữa 3,5% là muối vô cơ trong số đó có tới 68% là muối kali clorid; ngoài ra còn có acid ursolic
- Tác dụng hóa học: Tác dụng hạ huyết áp đối với thỏ thực nghiệm.
- Tác dụng sinh học:
+ Tác dụng hạ huyết áp đối với thỏ thực nghiệm.
+ Tác dụng lợi tiểu.
- Công dụng:
Hạ khô thảo được dùng để chữa tăng huyết áp có thể phối hợp với một số vị thuốc khác để tăng tác dụng diều trị như phối hợp với tang ký sinh, ngưu tất, cúc hoa. Còn được dùng để chữa bệnh tràng nhạc (lao hạch) phối hợp  với mẫu lệ, tạo giác thích. Ngoài ra còn dùng trị bệnh nhức mắt, viêm tuyến lệ, nước mắt chảy giàn giụa, chữa đau đầu, thiểu năng tuần hoàn, chóng mặt buồn nôn, phối hợp với cát căn, mạn kinh tử.  Ngoài ra với tính chất giải độc dùng hạ khô thảo trị bệnh mụn nhọt lở ngứa, phối hợp với liên kiều, thương nhĩ tử, hoặc dùng chữa xích bạch đới phối hợp với hoàng bá.
- Chú ý:
+ Khi dùng chỉ cần sao qua.
+ Cần phân biệt với cây hạ khô thảo nam (cây cải trời) mọc hoang ở các bờ ruộng Blumea subcapitata DC. Họ Cúc-Asteraceae chỉ dùng để chữa cảm mạo phong hàn và một số bệnh ngoài da.

Nguồn tin từ: Máy đo huyết áp

Tác giả: PSU.TS. Phạm Xuân vinh