Hoàng kỳ- thuộc họ đậu

- Đặc điểm thực vật: Cây sống lâu năm cao 5-80cm; thân mọc thẳng đứng. Lá mọc sole kép; lá có 6-13 đôi lá chét, hình trứng. Có nhiều cành nhỏ, cụm hoa mọc thành chùm ở kẽ lá, hoa mầu vàng tươi. Quả giáp mỏng, dẹt; ở phần đầu dài ra thành hình gai nhọn. Quả có hạt hình thận. Cây phân bố ở một số tỉnh Trung Quôc.
- Bộ phận dùng: Dễ
- Thành phần hóa học: Trong rễ hoàng kỳ có acid amin, cholin, betain, sao-charose, chất nhầy, gôm, tinh bột.
- Tác dụng sinh học
+Tác dụng hạ huyết áp (do giãn mạch).
+ Tác dụng lợi Tiểu
+ Tác dụng kháng sinh, ức chế vi khuẩn lỵ trực khuẩn mủ xanh thương hàn.
+ Làm tăng khả năng đáp ứng của interferon đối với nhiễm khuẩn do visus tác dụng hiệp đồng với in-terferon, tăng khả năng thực bào, tăng kháng thể.
- Công dụng:
Hoang kỳ được dùng để làm thuốc bổ khí, đặc biệt là khí trung tiêu bị hư, gây ra các triệu chứng sa giang các phụ tạng như sa ruột, sa trực tràng, lòi dom, trĩ, thoát vị bẹn, thường phối hợp với đảng sâm, bạch truật, thăng ma, sài hồ. Ngoài ra còn dùng hoàng kỳ trị bệnh ra mồ hôi, bệnh tiêu khát, bệnh viêm gan mạn tính và bệnh tăng huyết áp.
- Chú ý:
+ Cần tránh nhầm lẫn vị thuốc hoàng kỳ nói trên với rễ của cây vú bò, có mọc nhiều ở rừng Hà Bắc, Bắc Thái; hiện nay nhân dân khai thác dùng với tên Kỳ Nam. Kỳ Nam họ dâu tằm Moraceae rễ dài mầu vàng có hình dáng giống hoàng kỳ mùi thơm vị ngọt, được dùng giống như hoàng kỳ.
+ Khi dùng hoàng kỳ làm thuốc bổ người ta thường chích hoàng kỳ với mật ong hoặc đường đỏ, khi dùng chữa bệnh cổ trướng người ta tần hoàng kỳ với gà đen còn khi dùng trị bệnh tiêu khát, bệnh cao huyết áp, người ta chỉ thái phiến sao vàng.

Nguồn tin từ: PGS.TS.Phạm Xuân Sinh