|
Sản phẩm
Khuyến Mãi
|
Nhân sâm Có vị ngọt, hơi đắng, tính ôn, vào các kinh tỳ, phế, tâm, có tác dụng đại bổ nguyên khí, phục mạch cố thoát, sinh tân, an thần, bổ tỳ ích phế. Có tên khoa học Panax ginseng. Thường được dùng rể củ để làm thuốc. Nhân sâm (Panax Ginseng họ nhân sâm Araliaceae) được mô tả sớm nhất, theo lịch sử Y học cổ truyền của Trung Quốc, từ 3.000 năm trước công nguyên, nhân sâm đã được nói đến như là một thần dược trong “Thần nông bản thảo” của vua Thần Nông. Theo tài liệu cổ, Nhân sâm có vị ngọt, hơi đắng (lá có vị đắng hơi ngọt), tính ôn vào hai kinh Tỳ và Phế, có tác dụng đại bổ nguyên khí, ích huyết sinh tân, định thần, ích trí. Dùng để chữa phế hư sinh ho, suyễn; Tỳ hư sinh tiết tả; Vị hư sinh nôn mửa; bệnh lâu ngày khí hư, sợ hãi, tiêu khát… Theo y học hiện đại, dược tính của Nhân sâm dựa trên tác dụng của các thành phần hợp chất hữu cơ quan trọng nhân sâm như saponin sterolic, glycoside panaxin, tinh dầu (làm Nhân sâm có mùi đặc biệt), các vitamin B, và B2, các acid béo như acid panmitic, stearic và linoleic, các acid amin và hàm lượng germa-nium cao. Nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy nhân sâm có tác dụng tăng sức co bóp cơ tim ở liều thấp, với nồng độ cao có tác dụng làm hạ huyết áp. Ngoài ra còn được dùng để chữa mệt mỏi, kích thích thần kinh và hô hấp, có tác dụng hạ đường huyết. - Nghiên cứu nước sắc và cồn nhân sâm trên dược lý thực nghiệm cho thấy nồng độ nhân sâm thấp có tác dụng co bóp tim mạch và số lần co bóp tăng. Nồng độ càng cao lại có tác dụng ức chế tim càng mạnh và huyết áp. Do đó kết luận nhân sâm có hai hướng tác dụng lên hệ thần kinh thực vật: Liều nhỏ có tác dụng như thần kinh giao cảm; liều lớn có tác dụng như thần kinh đối giao cảm (thần kinh phế vị). - Theo Giáo sư Spellman (Mỹ), không nên dùng nhân sâm trong những trường hợp sốt cao, nhiễm trùng cấp tính, lên cơ suyễn, huyết áp cao, kinh kỳ quá nhiều, chảy máu cam…Đông y cho rằng, nhân sâm thường âm động hỏa, vì vậy người cao huyết áp thể âm hư dương xung, can hỏa động thì không nên dùng nhân sâm. - Nhân sâm còn có tác dụng làm giảm lượng cholesterol máu, giảm LĐL – cholesterol và tăng HĐL-cholesterol, giãn nở các động mạch giúp cho sự tuần hoàn khỏi bị đình trệ tắc nghén, giảm nguy cơ các bệnh tim mạch. - Trong thực tế lâm sàng, có thể dùng độc vị nhân sâm hoặc kết hợp với một số vị thuốc khác như gừng, cam thảo bắc, chế phụ tử…để chữa bệnh huyết áp thấp. Hiện nay, chè sâm của Hàn Quốc hay Trung Quốc là dạng chế phẩm hiện có trên thị trường, rất tiện dụng cho người tiêu dùng. - Các tác giả Trung Quốc và Nhật Bản cũng đều xác nhận rằng nhân sâm có tác dụng hạ đường huyết cả trên thực nghiệm và lâm sàng. - Liều sử dụng thông thường 1-9g, trong trường hợp choáng mất máu có thể sử dụng đến 30g. Trong trường hợp dùng quá liều có thể gấy những tác dụng phụ như: nhức nặng đầu, buồn nôn, tim đập nhanh, kích động, tăng huyết áp. - Trên thị trường có loại sâm Cát Lâm – Trung Quốc đã thái lát (gọi là Sâm lát). Có thể sử dụng loại sâm này. - Nhân sâm được dùng điều trị cấp cứu trong trường hợp bệnh nguy kịch (đông y cho là chứng Vong âm vong dương); khí thoát, chân tay lạnh, tự ra mồ hôi, mạch trầm vi tế hoặc trường hợp chảy máu nhiều, gây choáng (suy tuần hoàn cấp), dùng nhân sâm để ích khí cứu thoát, hồi dương cứu nghịch. Ứng dụng chữa bệnh huyết áp: - Nhân sâm 2-3g, can khương 2g, gừng khô 2g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày. - Nhân sâm 6g, linh chi lát thật mỏng 10g (gói riêng trong túi vải) đem hầm kỹ lấy nước. Thêm gạo vừa đử, nấu thành cháo. Ngày ăn một lần. Bài thuốc này thích dụng cho người cao tuổi, thể trạng hư nhược, bị huyết áp cao hoặc thấp. - Nhân sâm 6g, linh chi xay thô 10g, gừng tươi 3 lát. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày. - Độc sâm thang: Nhân sâm 4-12g, chưng cách thủy cho uống, nên uống nhiều lần. - Sâm phụ thang: nhân sâm 3-6g, phụ tử chế 4-16g, sắc uống 6 lần. Đối với trường hợp dương hư chân tay lạnh (choáng trụy tim mạch) cần thực hiện Đông tây y kết hợp cấp cứu. - Dùng hồng sâm 30g sắc nước cho uống liên tục, đồng thời châm bách hội, 2 kim hướng trước sau, cấp cứu 10 ca choáng do mất máu có tác dụng nâng áp (Tào Thuận Minh, Điều trị choáng – Tạp chí Trung y 1987, 4:13). - Dùng nhân sâm, mạch môn, ngũ vị chế thành thuốc tiêm sinh mạch (hàm lượng mỗi ml có 0,57g thuốc sống, mỗi lần tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch 2-4ml có kết quả tốt đối với nhồi máu cơ tim và choáng do tim ( Y viện Ma khai, Thiên tân, Dịch tiêm Sinh mạch tứ nghịch, Thông tin Trung thảo dược 1972, 4:21). Nguồn tin từ: Thầy thuốc, bác sĩ quân y ưu tú Quách Tuấn Vinh! |
|


