Mạch Môn chữa bệnh huyết áp thấp?

- Tên khoa học Ophiopogon japonicus Wall. Thuộc họ Mạch Môn Đông Haemodoraceae. Còn có tên gọi thốn đông, mạch đông, dương cửu, ô cửu, dương tề, ái cửu, vũ cửu, tuyệt cửu, mạch văn, củ tóc tiên, lan tiên. Loại thỏa, sống lâu năm, cao từ 10- 40cm, rễ chùm, trên rễ có những chỗ phát triển thành củ mẫm, lá mọc từ gốc, hẹp, dài 15-20 cm, hoa màu lơ nhạt, cuống dài 3-5mm, mọc tập trung 1-3 hoa ở kẽ các lá bắc, màu tráng nhạt. Quả mọng màu tím đen, đường kính của quả chừng 6mm. Quả có 1-2 hạt. Được trồng ở một số nơi, nhiều nhất ở Hải Hưng, Hà Sơn Bình, Hà Bắc.

- Thường dùng củ to bằng đầu đũa, mềm, vỏ trắng vàng, thịt ngọt, không mốc, không bị teo là tốt. Phần rễ còn không dùng làm thuốc (Dược Tài Học). Thu hái vào khoảng 7-8, chọn những củ già trên 2 năm, cắt bổ rễ con, rửa sạch.

- Khi bào chế tẩm nước nóng cho mềm, rút bỏ lõi. Muốn tán bột thì sau khi rút bỏ lõi, sao nóng, để nguội, làm như vậy 3-4 lần thì khô dòn, tán bột được (Lôi Công Bào Chích Luân). Hoặc rửa sạch cho nhanh (không ngâm nước lâu), để ráo nước cho se vỏ, dùng nhíp cùn rút bỏ lõi. Củ to thì bổ đôi, phơi khô hoặc sao qua, dùng (Dược Liệu Việt Nam).

- Theo y học hiện đại: Mạch môn có chứa Ophiopogonin, Ruscogenin, b-Sitosterol, Stgmasterol (Trung Dược Học). Rễ gồm nhiều loại Saponin, Axit amin, Vitamin A (Sổ tay lâm sàng trung dược). Mạch môn có tác dụng tăng huyết lượng động mạch vành, bảo vệ bệnh thiếu máu cơ tim, cải thiện lực co bóp cơ tim và chống rối loạn nhịp tim, trên thực nghiệm, thuốc còn có tác dụng an thần (Trung Dược Học).

- Theo Đông y: Mạch môn có vị ngọt, hơi đắng, tính hàn, vào các kinh phế, tâm, vị. Có tác dụng chỉ ấu thổ, cường âm ích tinh, tiêu cốc, điều trung, bảo thần, định phế khí, an ngũ tạng, làm cho cơ thể khỏe mạnh, mập mạp; An thần, chỉ thấu, thanh tâm, nhuận phế, bổ vị âm, tư tân dịch, giải khát.

- Thường dùng chữa các bệnh khí kết ở ngực và bụng, vị lạc mạch tuyệt, người gầy đoản khí, uống lâu nhẹ người, không đói, không già (Bản Kinh); người nặng, mắt vàng, dưới ngực đầy, hư lao nhiệt, miệng khô, phiền khát, nhiệt độc, giải phiền khát, chữa phù thũng mặt và chân tay…Chữa phế nuy, nôn ra mủ, tiết tinh; ngũ lao thất tán loạn hoặc phế nhiệt phế táo, hơi thở ngắn, hư suyễn, ho ra máu, hư lao, sốt về chiều, hoặc tỳ vị táo, táo bón; ho ra máu, miệng khô, khát nước, táo bón nơi người lơn tuổi, sau khi sinh. Liều lượng dùng 8-30g, dùng cho thuốc thang hoặc cao đơn hoàn tán, dùng cường tim liều cao hơn.

Ứng dụng chữa bệnh huyết áp thấp:

Mạch môn 12g, ngọc trục 20g, hà thủ ô 16g, đường quy 12g, thục địa 16g, sinh địa 12g, hoài sơn 16g, phục linh 8g, nữ trinh tử 8g, thiên hoa phấn 8g, bạch thược 8g, chích thảo 4g, sắc uống (Dưỡng Chính Thang – Sổ tay lâm sàng trung dược).

Chữa tim suy, có chứng hư thoát, ra mồ hôi nhiều, mạch nhanh, huyết áp hạ.

Nguồn tin từ: Bác sĩ, thầy thuốc quân y ưu tú Quách Tuấn Vinh!