Trường sơn?

- Đặc điểm thực vật: thường sơn thuộc loại cây bụi cao chừng 1m5 đến 2m. Thân giòn, rỗng, mầu tím. Lá mọc đối, hình mác, có cuống; phần cuống và mặt dưới lá có mầu tím, mép lá có răng cưa. Hoa mọc thành chùm có màu xanh lam hay hồng, mọc ở nách lá hay ở đầu các cành. Quả mọng, khi chín có màu lam. Thường sơn mọc hoang ở các tình phía Bắc như Hòa Bình, Hà Bắc, Bắc Cạn, Thái Nguyên…

- Bộ phận dùng: lá và rễ

- Thành phần hóa học: Alcaloid A (α, β-dichroin); Alcaloid B(γ-dichroin); các chất alcaloid khác như: Dichroin, febrifugin, isofebrifugin. Ngoài ra còn có các chất este nội như umbeliferon, dichrin A, dichrin B.

- Tác dụng sinh học

+ Alcaloid toàn phần của thường sơn có tác dụng hạ áp trên động vật (chó)

+Các alcaloid của thường sơn có tác dụng chống sốt rét (thí nghiệm trên gà) có hiệu lực tương tự quinin và gấp 26 lần so với quinin, chất alcaloid A tác dụng mạng hơn quinin từ 98-152 lần.

+ Alcaloid A của thường sơn ức chế ly amip. Dịch sắc của thượng sơn ức chế virus cúm PR3. Ngoài ra alcaloit toàn phần còn ức chế các khối u ở chuột nhắt.

- Công dụng: Thường sơn được dùng chủ yếu để chữa bệnh sốt rét, có thể phối hợp với thảo quả, binh lang, hậu phác. Dùng tốt trong các trường hợp sốt rét, đầu đau căng làm huyết áp tăng. Ngoài ra  còn dùng khi lồng ngực bí bích do nhiều đờm ngưng đọng.

- Chú ý: khong dùng cho phụ nữ có thai.

Nguồn tin từ: PGS.TS. Phạm Xuân Sinh