|
Sản phẩm
Khuyến Mãi
|
Bệnh tim mạch và các yêu tố nguy cơ dẫn đến bệnh này? Bệnh tim mạch và các yêu tố nguy cơ dẫn đến bệnh này? - Cho tới nay và có lẽ cả trong tương lai, bệnh tim mạch vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong bệnh học. Theo kết luận của nhiều chuyên gia y tế, bệnh tim mạch không chỉ chiếm tỷ lệ cao, mà còn có nguyên nhân trực tiếp gây tử vong lớn nhất trong các loại bệnh. Nhiều bệnh nhân bị rối loạn tim mạch, nhất là ở giai đoạn đầu thường không có biểu hiện lâm sàng. Vì vậy phát hiện sớm các rối loạn này để có kế hoạch theo dõi và điều trị kịp thời là rất cần thiết. Từ năm 1992, uy ban khoa học của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã tập trung nghiên cứu về các yếu tố và nguy cơ của bệnh tim mạch. Bởi lẽ việc nắm chắc các yếu tố, nguy cơ của bệnh tim mạch sẽ giúp chúng ta giải quyết hai mục đích cơ bản dưới đây. - Sớm phát hiện được những bệnh nhân có nguy cơ mắc bệnh tim mạch. - Xác định được nguyên nhân của bệnh tim mạch thế giới đã xác đính không đồng nhất về mối tương quan giữa bệnh tim mạch do mạch vành, cùng với lượng mỡ bão hòa trong thức ăn và lượng Cholesterol trong thức ăn, cũng như tác dụng chuyển hóa của những axit béo trong thức ăn. Chỉ có một số mức lipid (tỏng huyết tương ) có lợi, còn thì thường gây tắc động mạch và có nguy cơ bị bệnh tim mạch.Những axit béo không bão hòa rất dễ oxy hóa. Trong các bữa ăn hàng ngày, việc ăn cá đều đặn cũng có tác dụng làm giảm nguy cơ gây nên bệnh tim mạch. Những axit béo không bão hòa rất dễ oxy hóa. Trong những điều kiện nhất định chất oxy hòa này có thể gây nguy hiểm cho động mạch và dễ bị xơ vữa động mạch. - Muốn ngăn ngừa sự oxy hóa chống lại được quá trình xơ vữa động mạch như nói trên, các chuyên gia tim mạch đã chứng minh rằng lượng vitamin E (tạo nồng độ chuẩn Cholestorol), tỷ lệ nghịch với tỷ lệ tử vong của bệnh tim mạch do mạch vành. - Trong những kết quả nghiên cứu gần đây cũng cho thấy tỷ lệ bị mắc bệnh tim do mạch vành là thấp nhấp ở những khu vực mà ở đó người ta ăn nhiều thức ăn bằng thực vật. Những thức ăn có hàm lượng natri thấp và hàm lượng kali cao cũng có lợi cho việc kiểm soát bệnh tăng huyết áp. - Nếu nói về ảnh hưởng của rượu đối với bệnh tim mạch, người ta thấy rượu có tác dụng làm tăng huyết áp, do đó có nguy cơ dẫn đến tai biến mạch máu não. Uống nhiều rượu thường gây nên bệnh cơ tim giãn. Thực tế cho thấy những người uống quá nhiều rượu chiếm tỷ lệ cao trong bệnh loạn nhịp tim và xuất huyết não. Thế nhưng, ngược lại, đối với bệnh mạch vành lại thường gặp ở những người không uống rượu. Người ta còn gợi ý rằng cái sự nghịch lý đối với động mạch vành (ăn nhiều mỡ béo, nhưng tử vong do bệnh mạch vành thấp) có thể liên quan đến uống nhiều rượu vang pháp. Một số nước khác ở Địa Trung Hải cũng đồng tình với giả thuyết này. Người ta cũng cho rằng rượu vang có thể phòng ngừa những yếu tố mà nó không rõ ràng nhưng có hiệu quả tốt với cơ thể cầm máu và điều chắc chắn là thành phần không có chất cồn của rượu vang có thể có tính bảo vệ và ngăn ngừa. Cho đến nay ý kiến này vẫn chưa có tình thuyết phục cao. - Do đó, ta có thể tạm kết luận rằng uống rượu điều độ (10-30 g) ethanol hàng ngày cũng là hiệu quả trong việc phòng chống bệnh tim mạch và những người uống rượu điều độ như trên có khả năng đề kháng bệnh tim mạch hơn là những người nghiện rượu nặng bằng kiêng rượu. - Nhiều tài liệu nghiên cứu về dịch tễ học xuất bản năm 1950 cũng đã bắt đầu đề cập đến việc tăng cường hoạt động thể lực cũng làm giảm tỷ lệ nhồi máu cơ tim và chết đột ngột. Qua thống kê được biết những người lao động chân tay và luôn vận động thường ít bị bệnh tim mạch hơn những người lao động tại chỗ. Các thầy thuốc cũng đã chứng minh việc luyện tập thường xuyên với cường độ đủ để cải thiện và duy trì hệ tim phổi tốt và coi đó là cách tốt nhất phòng chống bệnh tim mạch. Các thầy thuốc cũng khuyên nhừng người ít hoạt động nên tăng cường hoạt động thể lực và coi đó như một phần của chiến lược giảm bớt căn bệnh tim mạch. - Người ta thừa nhận là bệnh tim mạch vành có ở nam giới nhiều hơn ở nữ giới và bệnh này thường gặp ở những người cao tuổi. Tại một số quốc gia, tỷ lệ tử vong của bệnh tim mạch do mạch vành ở đàn ông có thể nhiều gấp từ 2 đến 6 lần so với đàn bà. Nhiều chuyên gia y tế đã đưa ra nhiều lý do giải thích sự khác nhau về tỷ lệ mắc bệnh tim mạch giữa nữ và nam. Trong đó có ý kiến cho rằng phải chăng ở đàn ông co nhiều yếu tố nguy cơ hơn đàn bà. Hoặc là ở phụ nữ, trong cơ thể có sức đề kháng tự nhiên chống lại các nguy cơ của bệnh tim mạch. - Khi đề cập tới các yếu tố tâm lý xã hội tác động đến căn bệnh này, từ lâu người ta đã biết vai trò của tâm lý là nguồn gốc làm trầm trọng thêm bệnh tim mạch. - Theo các con số điều tra đại chúng ở đây, stress trong nhận thức của cộng đồng như là những nguyên nhân của bệnh tim. Nguy cơ của bệnh tim mạch do những khủng hoảng đời sống mang lại, ví dụ như sự tổn thất (người thân bị chết) hoặc là sự di trú hay về hưu. Những sự kiện đời sống gây nhiều stress có thể có quan hệ nhiều tới cả tỷ lệ mắc bệnh và tiên lượng sau khi bị nhồi máu cơ tim. Việc có ít thời gian và điều kiện tham gia các hoạt động xã hội cũng có liên quan tới mối nguy cơ của bệnh tim mạch. - Tóm lại, xác định các nguyên nhân của bệnh tim mạch được nói đến những thay đổi về mặt sinh học (lipid trong huyết thanh và các thành phần của nó, huyết áp, đường trong máu, các yếu tố tắc mạch cũng như các yếu tố khác) nhưng có thể là thói quen sinh hoạt, chẳng hạn như hút thuốc lá và ít vận động cơ thể, thói quen ăn uống như ăn mặn, ăn nhiều mỡ, cộng vào đó các vấn đề xã hội, tâm lý xã hội cũng được coi là nguy cơ dẫn đến các bệnh tim mạch. Đặc điểm sinh học như tuổi, giới tính và gen…yếu tố nguy cơ không phải là yếu tố để tiên lượng bệnh mà nó là yếu tố gây bệnh. Chúng ta có thể làm giảm mức độ của bệnh bằng cách làm giảm các nguy cơ gây ra những bệnh đó. Nguồn tin từ: Máy đo huyết áp Tác giả: TS.BS.Nguyễn Thị Chính “Chủ nhiệm khoa tim mạch-bệnh viện Hữu Nghị” |
|


